DƯỢC LIỆU & CÂY THUỐC

Bài thuốc quý 2000 năm gắn với thánh y Trương Trọng Cảnh và cụ Hải Thượng Lãn Ông

"Tôi kinh nghiệm hằng 30 năm, chữa khỏi được nhiều bệnh trầm trọng, cũng chỉ căn cứ vào 2 khiếu âm và dương, cũng chỉ trông vào 2 bài “bổ thủy và bổ hỏa” (bát vị và lục vị) khác biệt với các thầy khác mà thôi! Vậy thủy hỏa là căn bản để sinh ra con người, nhưng thủy là chân của hỏa cho nên phải tương giao mà không lìa được nhau. Lại phải quân bình mà không bên nào được hơn lên" - Cụ Hải Thượng Lãn Ông được trích dẫn lại lời tâm sự ấy.

Giai thoại Thánh y chữa bệnh cho Hán Vũ Đế

Năm 2006 trước Công nguyên thời Tây Hán, Hán Vũ Đế tên thật là Lưu Triệt, sách sử ghi rằng Lưu Triệt muốn cho mình khỏe mạnh, cải lão hoàn đồng nên đã uống nhiều “đan sa”, biến chứng phát sốt dữ dội, khát nước nhiều, đi tiểu liên tục mà không thuốc nào chữa khỏi. 

Hình ảnh: Bài thuốc quý 2000 năm gắn với thánh y Trương Trọng Cảnh và cụ Hải Thượng Lãn Ông số 1
Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông đã thừa kế và phát triển sáng tạo đối với 2 bài thuốc Bát vị và Lục vị. Minh họa: AI

Thánh y Trương Trọng Cảnh bấy giờ là đại phu chữa bệnh cho Lưu Triệt đã nghĩ ra hai phương thuốc: bát vị và lục vị. Nhờ thế mà nhà vua đã khỏi bệnh. Nguyên văn hai bài thuốc như sau:

Bài thuốc Bát vị quế phụ:

Thục địa 8 chỉ, hoài sơn 4 chỉ, sơn thù 4 chỉ, đan bì 3 chỉ, trạch tả 3 chỉ, bạch linh 3 chỉ, quan quế 1 chỉ, phụ tử 1 chỉ. (chú thích: 1 chỉ = 3,75g)

Tất cả 8 vị thuốc tốt nên gọi là bát vị.

Cách sao tẩm như sau: Thục địa thứ tốt tẩm gừng tươi sao khô. Hoài sơn tẩm nước cơm sao khô. Sơn thù bỏ hạt, tẩm rượu sao khô. Trạch tả tẩm nước muối loãng sao khô. Bạch linh tẩm sữa con so sao khô. Phụ tử đã chế mới đem dùng.

Chủ trị: Chân thận hỏa hư, chân thủy vượng làm cho mỏi mệt. Hạ bộ hàn lãnh, đau lưng, mỏi gối, lưng lạnh, đái đêm nhiều. Đại tiện phân lỏng, bần thần nặng đầu, hay quên, lừ đừ, ngái ngủ.

Phép gia giảm của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông

Bài thuốc tồn tại cho tới ngày nay đã hơn 2000 năm.

Cụ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác - một đại danh y của Việt Nam ta, khi xưa đánh giá rất cao bài bát vị và đã dùng bài thuốc này chữa bệnh cho chúa Trịnh Sâm. Ông dùng bài “bát vị” làm xương sống, căn cứ vào chứng mà gia giảm.

Sau đây là phép gia giảm của Hải Thượng Lãn Ông:

-Tạng thận yếu mà đi lị lâu tăng vị thang ma, phá cố chỉ đều 2 chỉ (1 chỉ = 3,75g).

-Mạch xích 2 bên hồng mà sác là chân âm kém, bội quế, phụ tử lên 2 chỉ.

-Mạch bổ bên trái vô lực là khí, tạng can suy nhược, bội sơn thù lên 3 chỉ.

-Mạch bổ quan bên phải vô lực là tỳ vị hư yếu, bội phục linh, trạch tả lên 2 chỉ.

-Hỏa dạ dày quá mạnh mà thành hoàng đản, sốt về chiều, miệng lở, chóng đói, bội mẫu đơn.

-Khí dạ dày yếu mà lạnh (hư hàn), đầy trướng, sôi bụng bội phục linh, trạch tả lên 2 chỉ, lại bội quế, phụ tử thêm 1 chỉ. Dương suy, tinh kém thêm lộc nhung, tử hà sa. Tạng thận yếu không đem được nguyên khí về chỗ, đi tiểu nhiều, thở suyễn, nôn ọe: bội ngũ vị tử, ngưu tất.

Bài lục vị của Thánh y Trương Trọng Cảnh

Danh y Trương Trọng Cảnh dùng bài “bát vị” nhưng bỏ đi 2 vị quế và phụ tử. Còn lại 6 vị gọi là bài “lục vị”.

Bài thuốc: Hoài sơn 4 chỉ, thục địa 8 chỉ, sơn thù 4 chỉ, đan bì 3 chỉ, trạch tả 3 chỉ, bạch linh 3 chỉ.

Chủ trị: Thận thủy suy kém, tinh khô, huyết kiệt đau lưng, mỏi gối, di tinh, khát nhiều, đái rắt, can thận suy yếu, hoa mắt, chóng mặt, phát sốt, nóng âm, da, tóc khô xỉn, mắt mũi nám đen, lưỡi khô ráo khát. Đối với phụ nữ nhan sắc ngày càng tàn tạ, nóng nảy, các chứng trẻ em chậm biết đi, tóc mọc chậm, chậm biết nói...

Phép gia giảm của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông:

Trên cơ sở thể tạng từng bệnh nhân, Cụ Hải Thượng Lãn Ông đã gia giảm như sau:

-Người gầy đen, khô táo thêm thục địa, bớt trạch tả.

-Tính nóng nảy, hay cáu giận bớt sơn thù thêm đan bì, bạch thược, sài hồ mỗi vị 2 chỉ.

-Lưng mỏi thêm đậu trọng tẩm muối sao.

-Tì vị hư yếu, ăn ít mà ngoài da lại khô xỉn tăng hoài sơn.

-Chứng đại đầu thống (nhức đầu quá mạnh), nếu người bệnh yếu lắm không nên dùng nhiều thuốc lạnh, mát mà chỉ nên dùng lục vị nhưng bội thêm thục địa, mẫu đơn bì, trạch tả, huyền sâm, ngưu tất mỗi vị 3 chỉ. Nếu hỏa quá mạnh thêm tri mẫu, hoàng bá mỗi vị 2 chỉ.

-Phụ nữ huyết khô, kinh bế, thiếu máu, xây xẩm ăn kém thêm xuyên quy, bạch chỉ mỗi vị 2 chỉ, quế tốt 1 chỉ.

-Chứng bạc đầu, rụng tóc thêm hà thủ ô 2 chỉ nhưng phải uống cho nhiều (vài chục thang) có thể hồi xuân.

-Mờ mắt thêm kỷ tử, cúc hoa, sài hồ, mỗi vị 2 chỉ.

Xem như thế mới biết bách bệnh đều bởi hư yếu mà ra. Mà hư yếu phần nhiều bởi tạng thận. Nội kinh nói: “Gặp chứng hư yếu phải bội tạng thận để giữ lấy mệnh môn. Nội kinh nói thêm: “Việc làm thuốc mà biết được yếu lĩnh thì mọi cái là xong. Không biết được yếu lĩnh thì man mác vô cùng!”.

Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông

Trong  Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, Cụ Hải Thượng Lãn Ông từng viết: Tôi kinh nghiệm hằng 30 năm, chữa khỏi được nhiều bệnh trầm trọng, cũng chỉ căn cứ vào 2 khiếu âm và dương, cũng chỉ trông vào 2 bài “bổ thủy và bổ hỏa” (bát vị và lục vị) khác biệt với các thầy khác mà thôi! Vậy thủy hỏa là căn bản để sinh ra con người, nhưng thủy là chân của hỏa cho nên phải tương giao mà không lìa được nhau. Lại phải quân bình mà không bên nào được hơn lên. Tính của hỏa bốc lên thì phải đem trở xuống. Tính của thủy nhuận xuống thì phải đem trở lên. Hỏa ở trên, thủy ở dưới gọi là tương giao tức thủy hỏa ký tế (nước và lửa đã làm xong việc). Hỏa ấy gọi là dương khí, thủy ấy gọi là âm khí, 2 bên cần phải có nhau, dựa vào nhau thì gọi là âm dương hòa bình.

Người nào chân âm của tạng thận không đầy đủ tức bổ mạch xích bên trái hư yếu, đi tế, sác thời dùng bài “lục vị”.

Còn người nào chân dương không đầy đủ, tức hỏa mệnh môn không được đầy, bổ mạch xích bên phải đi tế, sác thì dùng bài “bát vị”.

Từ đó, Cụ Hải Thượng Lãn Ông kết luận:

“Đem phương pháp để chữa một bệnh suy rộng ra có thể chữa được bách bệnh. Mà phương pháp chữa được bách bệnh về căn bản cũng như chữa được một bệnh vậy!”.

Hoàng Đạo (trích dẫn)

 

----------------------

Lời nhắc từ Sống Khỏe 100: Nội dung bài viết về hai bài thuốc Bát vị và Lục vị chỉ mang tính chất tham khảo, giúp người đọc hiểu thêm về triết lý y học cổ truyền. Các phương thuốc Đông y cần được gia giảm và kê đơn dựa trên tình trạng cơ thể cụ thể của từng người. Tuyệt đối KHÔNG tự ý bốc thuốc hoặc thay thế thuốc chữa bệnh theo đơn Bác sĩ chuyên khoa mà chưa có sự tham vấn từ lương y hoặc bác sĩ có chuyên môn.

Nguồn dẫn / tham khảo: https://vusta.vn/hai-bai-thuoc-noi-tieng-cua-truong-trong-canh-p72065.html

Bài thuốc quý 2000 năm gắn với thánh y Trương Trọng Cảnh và cụ Hải Thượng Lãn Ông

"Tôi kinh nghiệm hằng 30 năm, chữa khỏi được nhiều bệnh trầm trọng, cũng chỉ căn cứ vào 2 khiếu âm và dương, cũng chỉ trông vào 2 bài “bổ thủy và bổ hỏa” (bát vị và lục vị) khác biệt với các thầy khác mà thôi! Vậy thủy hỏa là căn bản để sinh ra con người, nhưng thủy là chân của hỏa cho nên phải tương giao mà không lìa được nhau. Lại phải quân bình mà không bên nào được hơn lên" - Cụ Hải Thượng Lãn Ông được trích dẫn lại lời tâm sự ấy.

Giải mã Tứ đại danh dược: Cách dùng Nhung hươu chuẩn chỉnh để bổ dưỡng, không tác dụng phụ

Xuân về cũng là thời điểm Lộc nhung tích tụ tinh hoa đất trời, đứng hàng đầu trong 'tứ đại danh dược' giúp hồi sinh sinh lực và bồi bổ tạng phủ. Tuy nhiên, trong công trình nghiên cứu của mình, GS Đỗ Tất Lợi nhắc nhở: Dùng nhung hươu sai cách với người 'âm hư hỏa vượng' hay cao huyết áp có thể gây bất lợi cho sức khỏe. Để nắm được cách dùng vị thuốc đại bổ này đúng cách, trước hết cần nắm rõ về nó.

Giải mã Dây Gắm và Thổ Phục Linh: Bộ đôi Nam dược đào thải Axit Uric, "khắc tinh" của bệnh Gout

"Bạn đang loay hoay trong cơn đau Gout thấu tâm can? Hoàng Đạo sẽ giải mã bộ đôi 'vệ sĩ' Thổ Phục Linh và Dây Gắm – những vị 'linh dược' từ rừng già Việt Nam chuyên trị căn bệnh nhà giàu, giúp thanh lọc cơ thể và phục hồi khớp xương từ gốc rễ."

Xuyên Tâm Liên

Xuyên tâm liên còn gọi là cây Công cộng, Nhất kiến hỷ, Lãm hạch liên, Khổ đởm thảo… Xuyên tâm liên có tác dụng kháng vi sinh vật (vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng), chống viêm, oxy hóa, ung thư…